Tổng hợp những tục ngữ dân gian Việt Nam hay nhất


1. Tục ngữ là gì?

Tục ngữ là thể loại văn học dân gian nhằm đúc kết kinh nghiệm, tri thức của nhân dân dưới hình thức những câu nói ngắn gọn, súc tích, có nhịp điệu, dễ nhớ, dễ truyền. Nội dung tục ngữ thường phản ánh những kinh nghiệm về lao động sản xuất, ghi nhận các hiện tượng lịch sử xã hội, hoặc thể hiện triết lý dân gian của dân tộc.

2. Ca dao là gì

Ca dao là thơ ca dân gian Việt Nam được truyền miệng dưới dạng những câu hát không theo một điệu nhất định, thường phổ biến theo thể thơ lục bát cho dễ nhớ, dễ thuộc.

Ca dao là một từ Hán Việt, theo từ nguyên, ca là bài hát có chương khúc, giai điệu; dao là bài hát ngắn, không có giai điệu, chương khúc.

Tục ngữ Việt Nam

A    Ao có bờ sông có bến

Ă     Ăn quả nhớ kẻ trồng cây

Ăn khoai nhớ kẻ cho dây mà trồng

  • Ăn cây nào rào cây nấy
  • Ăn cháo đá bát
  • Ăn chắc mặc bền
  • Ăn cho sạch bạch cho nông
  • Ăn cỗ đi trước, lội nước theo sau
  • Ăn cơm nhà vác tù và hàng tổng
  • Ăn cơm trước kẻng
  • Ăn đầu sóng, nói đầu gió
  • Ăn kĩ no lâu, cày sâu tốt lúa
  • Ăn không lo của kho cũng hết
  • Ăn không ngồi rồi
  • Ăn ngay nói thẳng
  • Ăn quả nhớ kẻ trồng cây
  • Ăn theo thuở, ở theo thời
  • Ăn trông nồi ngồi trông hướng
  • Ăn vóc học hay
  • Ăn cây nào, rào cây nấy
  • Ăn chưa no, lo chưa tới
  • Ăn cơm không rau như nhà giàu chết không nhạc
  • Ăn cơm có canh như tu hành có bạn
  • Ăn cơm mới, nói chuyện cũ
  • Ăn dầm, nằm dề
  • Ăn đi giỗ trước, lội nước theo sau

   Ân trả nghĩa đền

  • Ân đoạn nghĩa tuyệt

B    Bàn tay ta làm nên tất cả

Có sức người sỏi đá cũng thành cơm.

  • Bé đi câu, lớn đi hầu, già đi hỏi nợ
  • Bé người con nhà bác, lớn xác con nhà người
  • Bé người to con mắt
  • Bé người đòi chơi trèo
  • Bè thì bè lon, sào thì sào sậy
  • Bè ai người ấy chống
  • Buôn có bạn, bán có phường
  • Bụt chùa nhà không thiêng
  • Bạn bè con chấy cắn đôi
  • Bạn bè là nghĩa tương tri
  • Bầu ơi thương lấy bí cùng , tuy rằng khác giống nhưng chung một giàn
  • Bán anh em xa, mua láng giềng gần

   C   Có chí thì nên

  • Cây có cội, nước có nguồn
  • Cây cao bóng cả
  • Có công mài sắt, có ngày nên kim.
  • Có cô thì chợ cũng đông, cô đi lấy chồng thì chợ vẫn vui
  • Của đi thay người
  • Cái răng, cái tóc là góc con người.
  • Cái kim trong bọc cũng có ngày lòi ra
  • Con trâu là đầu cơ nghiệp
  • Cái khó ló cái khôn
  • Cần cù bù thông minh
  • Có mới nới cũ
  • Có mới thì nới cũ ra, mới để trong nhà cũ bỏ ngoài sân
  • Con dại cái mang
  • Con đàn cháu đống
  • Con độc cháu đàn
  • Con hơn cha là nhà có phúc
  • Con gái cái bòn
  • Cờ bí dí tốt
  • Cơm chẳng lành, canh chẳng ngọt
  • Con có cha như nhà có nóc, con không cha như nòng nọc đứt đuôi
  • Có cứng mới đứng đầu gió
  • Chuyện bé xé ra to
  • Cao chạy xa bay
  • Chị ngã em nâng
  • Cầu được ước thấy
  • Cọp chết để da,người ta chết để tiếng
  • Chó treo mèo đậy

D   Dao sắc không gọt được chuôi

  • Dân giàu nước mạnh.
  • Dục tốc bất đạt.

Đ  Đất lành chim đậu.

  • Đất lở chim bay
  • Đi một ngày đàng học một sàng khôn.
  • Đời cha ăn mặn đời con khát nước.
  • Đói cho sạch, rách cho thơm.
  • Đa sầu đa mang.
  • Đêm tháng năm chưa nằm đã sáng, ngày tháng mười chưa cười đã tối.
  • Đâm bị thóc, thóc bị gạo.
  • Đi thưa về gửi.
  • Đi đến nơi về đến chốn.
  • Đi một ngày đàng học một sàng khôn
  • Đàn gảy tai trâu.
  • Đèn nhà ai, nhà nấy rạng.
  • Đèn nhà bên sáng,gà nhà ta thức
  • Đầu năm sương muối, cuối năm gió nồm.
  • Đồng tiền đi liền khúc ruột .
  • Đất có lề, quê có thói.

G    Gieo gió gặp bão

  • Góp gió thành bão
  • Gieo nhân nào , gặt quả nấy
  • Giấy rách phải giữ lấy lề
  • Gần mực thì đen, gần đèn thì sáng
  • Giận quá mất khôn
  • Giận cá chém thớt
  • Gừng càng già càng cay.
  • Ghét của nào trời trao của nấy
  • Gạn đục, khơi trong.
  • Giặc đến nhà đàn bà cũng đánh.
  • Gan vàng dạ sắt.
  • Giỏ nhà ai quai nhà nấy
  • Giống rồng lại đẻ ra rồng
  • Gà què ăn quẩn cối xay
  • Giao trứng cho ác.
  • Gừng cay muối mặn.

E   Em nghe tiếng hát đâu xa

       Còn trẻ hay già mà còn tinh vang.

Ê   Êm như ru

  • Ếch ngồi đáy giếng

H    Hai đánh một không chột cũng què

  • Hai hổ phân tranh, nhứt hổ tử thương
  • Học đi đôi với hành
  • Học thầy không tày học bạn
  • Học ăn, học nói, học gói, học mở
  • Học mười năm biết một ngu si
  • Chơi mà không học, mất cả tương lai
  • Học tài thi phận
  • Hổ chết để da, người ta chết để tiếng
  • Hi sinh đời bố, củng cố đời con
  • Học một biết mười

K    Khôn ăn cái, dại ăn nước.

  • Khôn đâu tới trẻ, khỏe đâu tới già.
  • Khôn không qua lẽ, khỏe chẳng qua lời.
  • Khéo ăn thì no,khéo co thì ấm.
  • Không làm sao nên.
  • Không có gì là tuyệt đối.
  • Kính già, già để tuổi cho.
  • Kính lão đắc thọ.
  • Kính trên nhường dưới.
  • Khi yêu trái ấu cũng tròn, ghét nhau bồ hòn cũng méo.
  • Không có lửa làm sao có khói.
  • Không có gì tự nhiên có.
  • Kẻ cắp gặp bà già.
  • Khôn chết, dại chết, giả chết không chết.
  • Khôn nhà, dại chợ.
  • Khôn ba năm dại một giờ.
  • Không thầy đố mày làm nên.
  • Khỉ ho cò gáy.
  • Kính thầy yêu bạn.
  • Kết thù làm bạn.
  • Không nên đề bạn làm thù.
  • Khỏi vòng cong đuôi.
  • Kiến tha lâu cũng đầy tổ.
  • Kiến đen tha trứng lên cao, thế nào cũng có mưa rào rất to.
  • Khác máu tanh lòng.
  • Khôn từ trong trứng khôn ra.
  • Không dưng ai dễ đem phần đến cho.
  • Khăng khăng quân tử một lời nhất ngôn.

L   Lá rụng về cội

  • Lá lành đùm lá rách.
  • Lên voi xuống chó.
  • Lời nói chẳng mất tiền mua, lựa lời mà nói coi chừng rụng răng.
  • Liệu cơm gắp mắm.
  • Lùi một bước tiến ngàn dặm.
  • Lửa gần rơm lâu ngày cũng bén.
  • Lù đù vác cái lu mà chạy.
  • Lửa thử vàng gian nan thử sức.
  • Lựa gió xoay chiều.
  • Lành ít dữ nhiều.
  • Lắm kẻ yêu hơn nhiều người ghét.
  • Liệu việc như thần.

M     Muôn người như một ăn cột mà ra

  • Một điều nhịn chín điều lành.
  • Máu chảy ruột mềm.
  • Máu loãng còn hơn nước lã.
  • Môi hở, răng lạnh.
  • Một con ngựa đau, cả tàu bỏ cỏ.
  • Một con chim én không làm nên mùa xuân.
  • Một câu nhịn, chín câu lành.
  • Mất lòng trước, được lòng sau.
  • Một nụ cười bằng mười thang thuốc bổ.
  • Mật ngọt chết ruồi.
  • Mạnh vì gạo, bạo vì tiền.
  • Miếng ngon nhớ lâu, đòn đau nhớ đời.
  • Một miếng khi đói bằng một gói khi no.
  • Muốn ăn thì lăn vào bếp.
  • Muốn lành nghề, chớ nề học hỏi.
  • Muốn biết phải hỏi, muốn giỏi phải học.
  • Một kho vàng không bằng một nang chữ.
  • Một mặt người bằng mười mặt của.
  • Ma đưa lối, quỷ dẫn đường.
  • Mất bò mới lo làm chuồng.
  • Mau sao thì nắng, vắng sao thì mưa.
  • Mềm nắn, rắn buông.
  • Mềm quá thì yếu, cứng quá thì gãy.
  • Mèo mả gà đồng.
  • Mèo nhỏ bắt chuột con.
  • Mèo gặp mỡ.
  • Mía ngọt đánh cả cụm.
  • Một người lo bằng kho người làm.
  • Một thằng tính bằng chín thằng làm.
  • Một lần ngại tốn, bốn lần chẳng xong.
  • Một con sâu làm rầu nồi canh
  • Một chữ cũng là thầy, nửa chữ cũng là thầy.
  • Một nghề cho chín còn hơn chín nghề.
  • Mũi dại, lái phải chịu đòn.
  • Muốn ăn cá cả phải thả câu dài.
  • Mưu sự tại nhân hành sự tại thiên.
  • Mẹ hát, con khen hay.

M    Mẹ cày con cấy.

  • Một cây làm chẳng nên non, ba cây chụm lại nên hòn núi cao.
  • Muốn sang thì bắc cầu kiều, muốn con hay chữ thì yêu lấy thầy.
  • Mua danh ba vạn,bán danh ba đồ.
  • Mưa tháng ba hoa đất, mưa tháng tư hư đất.
  • Mèo khen mèo dài đuôi.

N    Năm nắng mười mưa

  • Năng làm thì nên.
  • Nước chảy về nguồn, lá rụng về cội.
  • Nước lã không huấy nên hồ.
  • Nước chảy đá mòn.
  • Nói có sách, mách có chứng.
  • Nói lời phải giữ lấy lời.
  • Nồi nào úp vung nấy.
  • No mất ngon, giận mất khôn.
  • No bụng đói con mắt.
  • Năng nhặt chặt bị.
  • Nó lú có chú nó khôn.
  • Nói thì hay, bắt tay thì dở.
  • Nước đổ lá khoai.
  • Nước chảy, hoa trôi, bèo dạt.
  • Nói một đàng, làm một nẻo.
  • Nuôi lợn ăn cơm nằm, nuôi tằm ăn cơm đứng.
  • Nuôi ong tay áo, nuôi cáo trong nhà.
  • Nước đổ đầu vịt
  • Nước lã mà vã nên hồ, tay không mà nổi cơ đồ mới ngoan.
  • Nói hay hơn hay nói.
  • Nực cười châu chấu đá xe, tưởng rằng chấu ngã, ai dè xe nghiêng.
  • Nói trước quên sau.
  • Nói lời phải giữ lấy lời, Đừng như con bướm đậu rồi lại bay.
  • Nói người phải nghĩ đến ta, sờ vào sau gáy xem xa hay gần.
  • Nói người phải nghĩ đến thân, sờ vào sau gáy xem gần hay xa.
  • Nam thực như hổ, nữ thực như miêu.
  • Nôm na là cha mánh khóe.
  • Người sống đống vàng

NH      Nhà sạch thì mát, bát sạch ngon cơm

  • Nhà giàu đứt tay bằng ăn mày đổ ruột
  • Nhất thì, nhì thục
  • Nhất nước, nhì phân, tam cần, tứ giống.
  • Nhất canh trì, nhị canh viên, tam canh điền.
  • Nhất quỷ nhì ma, thứ ba học trò
  • Nhân chi sơ tính bổn thiện
  • Những người cặp mắt lá răm, đôi mày lá liễu đáng trăm quan tiền.
  • Nhìn bụng ta, suy ra bụng người.
  • Nhìn mặt mà bắt hình dong.
  • Nhất tự vi sư, bán tự vi sư
  • Nhiễu điều phủ lấy giá gương, Người trong một nước phải thương nhau cùng.
  • Nhường cơm sẻ áo.
  • Nhất cận thị, nhị cận giang

NG    Người sống đống vàng.

  • Nghèo sinh bệnh, giàu sinh tật.
  • Người đẹp vì lụa, lúa tốt vì phân.
  • Ngu dốt mà nhiệt tình thành phá hoại.
  • Người ta là hoa đất.
  • Ngưu tầm ngưu, mã tầm mã.
  • Ngồi mát ăn bát vàng.
  • Ngọt như mía lùi.
  • Ngọt mật chết ruồi.

O   Oán không giải được oán

  • Oan có đầu, nợ có chủ
  • Oan oan tương báo , dỉ hận liên miên
  • Oán thù nên giải không nên kết

Ô    Ông thò chân giò, bà thò nậm rượu

  • Ông nói chó,bà nói mèo

Ơ     Ở hiền gặp lành, ở ác gặp ác

  • Ở nhà nghe Đông Hà lúa héo
  • Ở bầu thì tròn, ở ống thì dài.
  • Ở xó chuồng heo,hơn là theo phía vợ

P    Phép nước lệ làng.

  • Phép vua thua lệ làng.
  • Phòng bệnh hơn chữa bệnh.
  • Phúc bất trùng lai, hoạ vô đơn chí.

Q     Quân tử phòng thân; tiểu nhân phòng bị, gậy.

  • Quân tử nhất ngôn kí xuất, tứ mã nan truy
  • Quỷ tha, ma bắt
  • Quả báo nhãn tiền
  • Quan nhất thời, dân vạn đại
  • Quýt làm cam chịu
  • Qua cầu rút ván
  • Quân tử trả thù mười năm chưa muộn

R    Rao ngọc bán đá

  • Ráng mỡ gà có nhà thì chống.
  • Ráng mỡ gà thì gió , ráng mỡ chó thì mưa.
  • Rau nào sâu nấy.
  • Ruộng bề bề chẳng bằng nghề trong tay.
  • Rừng vàng, biển bạc.
  • Rừng không hai cọp, nước không hai vua
  • Rừng nào cọp nấy
  • Ráng mỡ gà,có nhà thì giữ

S      Sinh nghề tử nghiệp

  • Sinh lão bệnh tử
  • Sinh li tử biệt
  • Sông có khúc, người có lúc
  • Sóng Trường Giang, sóng sau đập sóng trước
  • Sông sâu còn có kẻ dò, đố ai lấy thước mà đo lòng người
  • Sai một li đi một dặm
  • Sự thật mất lòng
  • Sông sâu sóng cả chớ ngã tay chèo
  • Sông cạn đá mòn
  • Sóng trước đổ đâu, sóng sau đổ đó.
  • Sinh cơ lập nghiệp

T    Ta về ta tắm ao ta, dù trong dù đục ao nhà vẫn hơn.

  • Tấc đất tấc vàng
  • Tai vách mạch rừng.
  • Tẩm ngẩm tầm ngầm mà đấm chết voi
  • Tâm cuồng, trí loạn.
  • Tay làm hàm nhai, tay quai miệng trễ.
  • Té nước theo mưa.
  • Tình sâu, nghĩa nặng.
  • Tình thương quán cũng là nhà, lều tranh có nghĩa hơn tòa ngói cao.
  • Tiên học lễ hậu học văn
  • Tiền vào nhà khó như gió vào nhà trống.
  • Tiền vào quan như than vào lò
  • Tiền nào của đó
  • Tốt gỗ hơn tốt nước sơn, xấu người đẹp nết con hơn đẹp người
  • Tôm đi chạng vạng, cá đi rạng đông.
  • Tốt danh hơn lành áo.

TH     Tháng bảy kiến bò, chỉ lo lại lụt

  • Tham giàu phụ khó. tham sang phụ phần
  • Tham giàu phụ ngải
  • Tham phú phụ bần
  • Thất bại là mẹ thành công
  • Thật thà là cha dại.
  • Thật thà ăn cháo, láo nháo ăn cơm
  • Thắng làm vua thua làm giặc
  • Thuận vợ thuận chồng, tát biển Đông cũng cạn.
  • Thương cho roi cho vọt, ghét cho ngọt cho bùi
  • Thương nhau mấy núi cũng trèo, mấy sông cũng lội mấy đèo cũng qua
  • Thua thầy một vạn không bằng kém bạn một li
  • Thân sâu hồn bướm
  • Thừa nước đục thả câu
  • Thả hổ về rừng
  • Thua keo này bày keo khác
  • Thuyền to sóng cả.
  • Thầy bói xem voi
  • Tháng hai trồng cà, tháng ba trồng đỗ.
  • Thùng rỗng kêu to.
  • Tránh vỏ dưa gặp vỏ dừa
  • Trăm đường tránh không khỏi số.
  • Trăm hay không bằng tay quen.
  • Trăm nghe không bằng một thấy.
  • Trăm năm bia đá cũng mòn, nghìn năm bia miệng vẫn còn trơ trơ.
  • Trăng quầng thì hạn, trăng tán thì mưa.
  • Trăm người bán vạn người mua.
  • Trâu buộc ghét trâu ăn.
  • Trâu cột ghét trâu ăn.
  • Trâu già thích gặm cỏ non.
  • Tre già măng mọc.
  • Tránh voi chẳng xấu mặt nào.
  • Trong cái khó lại ló cái khôn.
  • Trống làng nào làng ấy đánh.

U   Uống nước nhớ nguồn

Ư     Ước gì được nấy

  • Ướt như chuột lột
  • Uốn cây từ thuở còn non. Dạy con từ thuở con còn ngây thơ.

V       Vỏ quýt dày có móng tay nhọn

  • Vắng chủ nhà gà vọc niêu tôm
  • Việc nhà thì ngán, việc làng thì siêng.
  • Việc nước trước việc nhà.
  • Vụng chèo khéo trống
  • Việc nhà thì nhác việc chú bác thì siêng
  • Văn hay chữ tốt
  • Việc người thì sáng, việc mình thì quáng

X  Xa sông, cách núi.

  • Xấu hay làm tốt, dốt hay nói chữ
  • Xôi hỏng bỏng không
  • Xa thơm gần thối
  • Xa thương, gần thường
  • Xem bói ra ma, quét nhà ra rác
  • Xởi lởi trời cho, so đo trời lấy lại
  • Xa mặt cách lòng

Y   Yêu nhau lắm, cắn nhau đau

  • Yêu nhau cau sáu bổ ba, ghét nhau cau sáu bổ ra làm mười
  • Yêu trẻ, trẻ đến nhà; kính già, già để tuổi cho.
  • Yêu nhau yêu cả đường đi, ghét nhau ghét cả tông chi họ hàng
  • Yêu nhau vạn sự chẳng nề, dẫu trăm chỗ lệch cũng kê cho bằng
  • Yêu nhau xa cũng nên gần, ghét nhau cách một bàn chân cũng lìa

=============================

Ca dao tục ngữ về cha mẹ

Tục ngữ về mẹ cha

1. Tử hiếu song thân lạc, gia hòa vạn sự hưng (thành).
→ Con cái hiếu thảo cha mẹ vui, gia đình hòa thuận mọi chuyện đều hưng thịnh, tốt đẹp.

2. Mồ côi cha, ăn cơm với cá. Mồ côi mẹ lót lá mà nằm.
→ Sự chu đáo và tình yêu thương của mẹ dành cho con dạt dào hơn cha. Không cha con vẫn đủ đầy nhưng không mẹ thì con cực khổ trăm bề.

3. Mẹ dạy thì con khéo, bố (cha) dạy thì con khôn.
→ Mẹ dạy con sự khéo léo, đảm đang, bố dạy con sự khôn ngoan ngoài xã hội.

4. Mẹ ngoảnh đi con dại, mẹ ngoảnh lại con khôn.
→ Con cái khi được sự quan tâm của mẹ sẽ ngoan ngoan, nên người. Đến khi mẹ lơ là, bỏ bê thì hư hỏng, dại khờ.

5. Mẹ giàu con có, mẹ khó con không.
→ Những gì con có đều là từ mẹ mà ra. Mẹ giàu có con được hưởng phước, mẹ nghèo khổ con thua thiệt người ta.

Ca dao về cha mẹ

1. Đêm đêm thắp ngọn đèn trời,
Cầu cho cha mẹ sống đời với con.

2. Đêm khuya trăng rụng xuống cầu,
Cảm thương cha mẹ dãi dầu ruột đau.

3. Mẹ nuôi con bằng trời bằng bể,
Con nuôi mẹ con kể từng ngày.

4. Mẹ nuôi được mười con,
Mười con không nuôi được một mẹ.

5. Mẹ cha gánh vác hy sinh,
Mẹ cha quên cả thân mình vì con.

6. Mẹ già ở tấm lều tranh,
Sớm thăm tối viếng mới đành dạ con.

7. Mẹ già như chuối ba hương,
Như xôi nếp một, như đường mía lau.

8. Mẹ già hết gạo treo niêu,
Mà anh khăn đỏ khăn điều vắt vai.

9. Mẹ già như ánh trăng khuya,
Dịu dàng soi tỏ bước đi con hiền.

10. Mẹ còn chẳng biết là may,
Mẹ mất mới tiếc những ngày làm con.

4. Một số câu ca dao tục ngữ nói về tính siêng năng kiên trì

TỤC NGỮ:

– Có chí thì nên

– Hữu chí cánh thành.

– Có chí làm quan, có có gan làm giàu.

– Người có chí thì nên, nhà có nền thì vững.

– Mưu cao chẳng bằng chí dày.

– Thua keo này bày keo khác.

– Trời sinh voi, trời sinh cỏ.

– Hết cơn bĩ cực, đến kì thái lai.

– Ai đội đá mà sống ở đời.

– Ba cái vui thì trẻ, ba cái bẽ thì già.

– Chớ thấy sóng cả mà ngã tay chèo.

– Chớ vì nghẹn một miếng mà bỏ bữa bỏ ăn, chớ vì ngã một lần mà chân không bước.

– Có cứng mới đứng được đầu gió.

– Không vào hang hổ, sao bắt được hổ.

– Mảng lo khó, bó không chặt.

– Trăm bó đuốc cũng vớ được con ếch.

– Kiến tha lâu đầy tổ.

– Có công mài sắt có ngày nên kim.

CA DAO:

– Ngọc kia chuốt mãi cũng tròn,
Sắt kia mài mãi cũng còn nên kim.

– Dẫu rằng chí thiễn tài hèn
Chịu khó nhẫn nại làm nên cơ đồ.

– Ai ơi giữ chí cho bền
Dù ai xoay hướng đổi nền mặc ai.

– Hãy cho bền chí câu cua,
Dù ai câu chạch câu rùa mặc ai.

– Người đời ai khỏi gian nan
Gian nan có thuở thanh nhàn có khi.

– Có bột mới gột nên hồ
Tay không mà dựng cơ đồ mới ngoan.

– Ai ơi giữ chí cho bền
Dù ai đổi hướng xoay chiều mặc ai.

– Trời nào có phụ ai đâu
Hay làm thì giàu, có chí thì nên.

– Non cao cũng có đường trèo
Đường dù hiểm nghèo cũng có lối đi.

– Non cao cũng có đường trèo
Những bệnh hiểm nghèo có thuốc thần tiên.

5. Các câu ca dao Việt Nam

1. Ai ai cũng có duyên phần,

Bon chen mặc kẻ, tảo tần thây ai.

2. Ai làm cái phận em nghèo,

Kém ăn, kém nói, kém điều khôn ngoan.

Bởi chưng chẳng có bạc vàng,

Cho nên em phải nhường khôn cho người.

3. Ai mà lấy thúng úp voi,

Úp sao cho khỏi lòi vòi, lòi đuôi?

4. Ăn nhanh, đi chậm, hay cười,

Hay mua đồ cũ là người Việt Nam.

5. Ăn rươi chịu bão cho cam

Không ăn chịu bão, thế gian cũng nhiều.

6. Ba đồng một mớ đàn ông,

Đem bỏ vào lồng cho kiến nó tha.

Ba trăm một mụ đàn bà,

Đem về mà trải chiếu hoa cho ngồi.

7. Bần gie, bần ngã, bần quỳ,

Cảm thương thân phận chia li thêm buồn.

8. Buôn bấc rồi lại buôn dầu,

Buôn nhiễu đội đầu, buôn nhẫn lồng tay.

Sầu về một tiết tháng giêng,

May áo cổ kiềng người mặc cho ai.

Sầu về một tiết tháng hai,

Bông chửa ra đài người đã hái hoa.

Sầu về một tiết tháng ba,

Mưa héo ruộng cà nắng cháy ruộng dưa.

Sầu về một tiết tháng tư,

Con mắt lừ đừ cơm chẳng buồn ăn.

Sầu về một tiết tháng năm,

Chưa đặt mình nằm gà gáy sang canh.

9. Buồn rầu, buồn rỉ, buồn nỉ, buồn non,

Buồn vì một nỗi sớm con muộn chồng.

10. Buồn từ trong dạ buồn ra,

Buồn anh ở bạc, buồn cha mẹ nghèo.

11. Buồn về một tiết tháng giêng,

May áo cổ kiềng người mặc cho ai.

Buồn về một tiết tháng hai,

Bông chửa ra đài người đã hái hoa.

Buồn về một tiết tháng ba,

Con mắt la đà trong dạ tương tư.

Buồn về một tiết tháng tư,

Con mắt lừ đừ cơm chả buồn ăn.

Buồn về một tiết tháng năm,

Chưa đặt mình nằm gà gáy chim kêu.

Buồn về tiết tháng sáu này,

Chồng cày vợ cấy chân chim đầy đồng,

Bấy giờ công lại hoàn công.

12. Cái vòng danh lợi cong cong,

Kẻ hòng ra khỏi, người mong bước vào.

Cá trong lờ đỏ hỏe con mắt,

Cá ngoài lờ ngúc ngắc muốn vô.

Tung tăng như cá trong lờ,

Trong không ra được, ngoài ngờ là vui.

13. Chết thời cơm nếp thịt gà,

Sống thời xin bát nước cà không cho.

14. Có tiền chán vạn người hầu,

Có bấc có dầu, chán vạn người khêu.

15. Con cò mắc rò mà chết,

Con quạ mua nếp làm chay,

Con cu đánh trống ba ngày,

Chào mào đội mũ làm tầy đọc văn.

Láng giềng chạy đến lăng xăng,

Mua ba thước vải đội khăn cho cò.

16. Con quạ ăn dưa, bắt con cò phơi nắng,

Nghĩ chuyện đời, cò trắng quạ đen.

Con quạ mà biết mình đen,

Nó đâu có dám mon men tới cò.

17. Đêm qua ra đứng bờ ao,

Trông cá: cá lặn; trông sao: sao mờ.

Buồn trông con nhện chăng tơ,

Nhện ơi, nhện hỡi, nhện chờ mối ai?

Buồn trông chênh chếch sao Mai,

Sao ơi, sao hỡi, nhớ ai sao mờ?

18. Đời cha đi hái hoa người,

Đời con phải trả nợ đời thay cha.

19. Đói lòng ăn quả khổ qua,

Nuốt vô thì đắng, nhả ra bạn cười.

20. Đời xưa kén những con dòng,

Đời nay ấm cật no lòng thì thôi.

21. Đời xưa quả báo còn chầy,

Đời nay quả báo một dây nhãn tiền.

22. Chùa nát nhưng có Bụt vàng,

Tuy rằng miếu đổ thành hoàng còn thiêng.

23. Ai đi cách trở sơn khê

Nhớ tô mỳ Quảng, tình quê mặn nồng.

24. Ai mà quyết chí tu hành,

Có đi Yên Tử mới đành lòng tu.

Chữ rằng phi hữu phi vô,

Có đi Đông độ mới đồ Tây phương.

25. Ai qua Yên Tử – Quỳnh Lâm,

Vĩnh Nghiêm chưa đến, thiền tâm chưa đành.

26. Ai về Bình Định mà nghe,

Nói thơ chàng Lía, hát vè Quảng Nam.

27. An Lãng bánh đúc, bánh đa,

Ngân Cầu bánh bỏng, Hương La bánh bèo.

28. An Phú nấu kẹo mạch nha,

Làng Vòng làm cốm để mà tiến vua.

Họ Lại làm giấy sắc vua,

Làng Láng mở hội kéo cờ hùng nghê.

29. Anh Sơn phủ bạc thiếp hòe,

Gió Nam Đàn thổi, Liễu về với xuân.

30. Ấy ngày mồng sáu tháng ba,

Ăn cơm với cà đi hội chùa Tây.

Hò chơi bên gái bên trai,

Xin cùng cô bác đừng ai nghi ngờ.

31. Bà phải có ông chồng phải có vợ,

Giàu thì một lọ khó thì một niêu.

Dù cho cha đánh mẹ treo,

Cũng không bỏ được Chùa Keo ngày rằm.

32. Ba Xã có lưới quăng chài,

Mật Ninh hút thuốc kéo dài cổ ra.

6. Ca dao tục ngữ về thầy cô

Muốn sang thì bắc cầu Kiều
Muốn con hay chữ thì yêu kính thầy.

Cơm cha, áo mẹ, chữ thầy
Nghĩ sao cho bõ những ngày ước mong.

Ơn thầy soi lối mở đường
Cho con vững bước dặm trường tương lai

Gươm vàng rớt xuống Hồ Tây
Ơn cha nghĩa trọng công thầy cũng sâu.

Mấy ai là kẻ không thầy
Thế gian thường nói đố mày làm nên.

Vua, thầy, cha, ấy ba ngôi
Kính thờ như một, trẻ ơi ghi lòng.

Mười năm rèn luyện sách đèn
Công danh gặp bước, chớ quên ơn thầy.

Mẹ cha công đức sinh thành
Ra trường thầy dạy học hành cho hay.

Ơn Thầy không bằng gốc bễ,
Nghĩa Thầy gánh vác cuộc đời học sinh.

Ăn quả nhớ kẻ trồng cây
Có danh có vọng nhớ thầy khi xưa.

Công cha, áo mẹ, chữ thầy
Gắng công mà học có ngày thành danh.

Bẻ lau làm viết chép văn
Âu Dương có mẹ dạy răn như thầy.

Dốt kia thì phải cậy thầy
Vụng kia cậy thợ thì mày làm nên.

Đến đây viếng cảnh viếng thầy
Không say mùi đạo cũng khuây mùi trần.

Ở đây gần bạn gần thầy
Có công mài sắt có ngày nên kim.

Tạ ơn thầy đã dẫn con vào rừng trí thức
Cảm nghĩa cô đã dắt trò đến biển yêu thương.

Comments

comments


Leave a Reply

Your email address will not be published. Required fields are marked *